|
|
KHAI THÁC THỦY SẢN |
|
Hội nghị bàn giải pháp giảm tổn thất sau thu hoạch trong khai thác thủy sản
(13/02/2012)
Ngày 10/2/2012, tại Kiên Giang, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với UBND tỉnh Kiên Giang tổ chức Hội nghị bàn giải pháp giảm tổn thất sau thu hoạch trong khai thác thủy sản. Tham dự Hội nghị có đại diện các Bộ, ngành và các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục Thủy sản, đại diện lãnh đạo các Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh ven biển. Thứ trưởng Nông nghiệp và PTNT Vũ Văn Tám và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Lâm Hoàng Sa đã chủ trì Hội nghị. Trong nhiều năm qua, ngành Thủy sản đã có sự phát triển nhanh và duy trì mức tăng trưởng ổn định, trong đó có khai thác thủy sản, theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ, hướng tới xuất khẩu, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của ngành NN và PTNT nói riêng và của nền kinh tế quốc dân nói chung, đảm bảo an ninh lương thực và góp phần giữ gìn an ninh chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Báo cáo của Tổng cục Thủy sản tại Hội nghị cho biết, năm 2011, tổng sản lượng khai thác hải sản đạt trên 2 triệu tấn, trong đó hơn 40% sản lượng từ khai thác xa bờ. Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt mức kỷ lục gần 6,1 tỷ USD, trong đó sản phẩm thủy sản khai thác như cá ngừ đại dương, mực bạch tuộc và nhuyển thể hai mảnh vỏ đã đóng góp khoảng 1,9 tỷ USD. Tính đến 31/12/2012, tổng số tàu thuyền khai thác thủy sản khoảng gần 130 ngàn chiếc, trong đó tàu thuyền có công suất trên 90 CV là 24.517 chiếc (chiếm 18,84%). Tuy nhiên, những kết quả đạt được thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế tự nhiên, các nguồn lực chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả, tổn thất sau thu hoạch trong khai thác thủy sản còn rất lớn. Theo báo cáo, ước tính khoảng trên 20% sản lượng khai thác, thậm chí lên đến 30% đối với các tàu lưới kéo bảo quản bằng phương pháp ướp muối, đã bị tổn thất sau khai thác, dẫn đến hiệu quả khai thác thấp, sinh kế của người dân bị ảnh hưởng. Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do phần lớn tàu cá kíhc thứoc nhỏ, đóng theo mẫu dân gian nên thường không có các điều kiện tốt để bảo quản sản phẩm sau khai thác. Phương pháp bảo quản chủ yếu bằng đá xay nên thời gian bảo quản ngắn. Vì vậy, sản phẩm khai thác khi về đến bờ thường bị giảm chất lượng, số lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu không cao, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất của chuyến biển. Để nâng cao chất lượng sản phẩm, trong thời gian qua, Chính phủ và các Bộ đã ban hành nhiều văn bản quản lý Nhà nước nhằm hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản. Ngày 23/9/2009, Chính phủ đã có Nghị quyết số 48/NQ-CP về cơ chế, chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/4/2010, về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành các Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg, ngày 15/10/2010, về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản và Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg, ngày 02/12/2011, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg. Thực hiện các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số 62/2010/TT-BNNPTNT, ngày 28/10/2010, quy định danh mục các loại máy móc, thiết bị được hưởng chính sách theo Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 03/2011/TT-NHNN, ngày 08/3/2011, hướng dẫn chi tiết thực hiện Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg. Đồng thời Bộ Nông nghiệp và PTNT đã giao Tổng cục Thủy sản hướng dẫn các địa phương triển khai nhiều biện pháp như tổ chức lại sản xuất trên biển, tăng cường chất lượng dự báo ngư trường, chỉ đạo khai thác theo mùa vụ,… trong đó việc tổ chức lại sản xuất trên biển theo tổ đội sản xuất trên biển được chú trọng. Đến nay, một số tỉnh đã có nhiều mô hình tổ đội sản xuất trên biển như Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Thuận. Khánh Hòa cũng đang thực hiện mô hình tàu mẹ - tàu con, trong đó tàu mẹ được trang bị hệ thống cấp đông sản phẩm và có hệ thống bảo quản sản phẩm tốt thực hiện thu mua, bảo quản tại ngư trường khai thác và cung cấp nhiên liệu, lương thực thực phẩm, tăng thời gian bám biển và giảm bớt chi phí hoạt động khai thác. Tại Hội nghị, các đại biểu đã nêu nhiều ý kiến liên quan đến việc chỉ đạo triển khai thực hiện các Quyết định của Thủ tướng và đề xuất phương hướng, biện pháp thực hiện. Thời gian qua, Nhà nước và các địa phương đã quan tâm đẩy mạnh sản xuất và giảm tổn thất sau thu hoạch trong phát triển thủy sản thông qua việc ban hành và triển khai các cơ chế, chính sách. Tuy nhiên, tổn thất sau thu hoạch vẫn lớn và chưa có xu hướng giảm. Mặc dù số tàu thuyền công suất lớn tăng, nhưng số tàu hiện đại chưa tăng nhiều. Việc tổ chức lại sản xuất khai thác cần chú trọng cả ở trên biển và trên bờ, trong khi trên biển đã có một số mô hình, nhưng tổ chức hoạt động ở các cảng cá, bến cá còn chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều ý kiến cho rằng, công tác tuyên truyền phổ biến các văn bản quản lý chưa được chú trọng, nên trong thực tiễn triển khai, nhiều người dân và cả doanh nghiệp thủy sản chưa nắm được đầy đủ thậm chí chưa biết đến các chính sách đã ban hành. Ngư dân khó tiếp cận nguồn vốn do thủ tục nhận hỗ trợ còn phức tạp, chưa phù hợp với thực tiễn sản xuất khai thác thủy sản. Trong khi đó, nguồn vốn cho vay còn hạn chế, nên nhiều doanh nghiệp và nông ngư dân có nhu cầu chưa tiếp cận được. Trong năm 2011, Cục Chế biến thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối đã công bố cho 34 tổ chức, cá nhân sản xuất máy móc, thiết bị được hưởng chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, nhưng không có đơn vị nào liên quan đến thiết bị, máy móc trong lĩnh vực khai thác thủy sản. Mặt khác, các cơ quan quản lý chưa ban hành các tiêu chuẩn, quy trình công nghệ trong bảo quản sản phẩm, nên ngư dân lúng túng trong việc lựa chọn áp dụng các phương pháp, hình thức bảo quản phù hợp. Thời gian tới, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các văn bản, chính sách đến người dân và doanh nghiệp và hướng dẫn họ tiếp cận nguồn vốn. Cần rà soát, điều chỉnh các quy định đã ban hành cho phù hợp với thực tiến, như giảm mức độ tỷ lệ nội địa hóa đối với thiét bị, máy móc (nhiều ý kiến cho rằng, mức quy định tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước trên 60% là quá cao); xem xét cho đối tượng là tàu dịch vụ hậu cần được hưởng hỗ trợ lãi suất, chính sách hỗ trợ để người dân chuyển đổi hình thức bảo quản sản phẩm, đơn giản hóa thủ tục cho vay... Đẩy mạnh nghiên cứu KHCN và công tác khuyến ngư để tăng chất lượng sản phẩm sau thu hoạch. Phát biểu kết luận Hội nghị, Thứ trưởng Vũ Văn Tám đã nhận định, các kết quả đạt được trong thời gian qua mới chỉ là kết quả triển khai bước đầu Nghị quyết 48 của Chính phủ và các Quyết định 63/2010/QĐ-TTg và 65/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Công tác tuyên truyền, phổ biến mới chỉ ở mức khởi động. Năm 2012 là năm toàn ngành phải thể hiện quyết tâm cao để thúc đẩy phát triển thủy sản đạt các mục tiêu đề ra, góp phần ổn định tăng trưởng về kinh tế và xã hội của đất nước. Thứ trưởng đã chỉ đạo các nhóm giải pháp cần thực hiện để ngư dân và doanh nghiệp được hưởng chính sách nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao hiệu quả và chất lượng trong khai thác thủy sản. Cụ thể : 1/ Về giải pháp chính sách, ngay trong quý 1/2012, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin truyền thông các chính sách của Chính phủ liên quan đến bảo quản sau thu hoạch. Các địa phương cần rà soát các máy móc, thiết bị tại địa phương để kịp thời giới thiệu các tổ chức, cá nhân được hưởng chính sách. Các chương trình khuyến ngư cần hướng đền các phương pháp, quy trình công nghệ liên quan đến biện pháp giảm tổn thất sau thu hoạch. Các Sở NN & PTNT tham mưu cho UBND tỉnh thành lập tổ công tác liên ngành để triển khai có hiệu quả Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tăng cường phối hợp với các hội nghề nghiệp trong việc thực hiện các Nghị quyết 48/NQ-CP, Nghị định 41/2010/NĐ-CP, 61/2010/NĐ-CP và Quyết định 48/QĐ-TTg. 2/ Về giải pháp công nghệ, kiên quyết loại bỏ các kỹ thuật và thiết bị lạc hậu trong bảo quản sản phẩm, ứng dụng các công nghệ bảo quản tiên tiến, hiệu quả hơn. Giới thiệu các mô hình, thiết bị bảo quản sản phẩm tiên tiến thông qua các hội nghị, hội thảo, phổ biến cho ngư dân để họ tiếp cận, chuyển giao công nghệ áp dụng trong sản xuất khai thác thủy sản. 3/ Giải pháp cơ chế chính sách, Tổng cục Thủy sản/Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản cập nhật các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong triển khai tại địa phương như tỷ lệ nội địa hóa, thủ tục vay và thời gian vay vốn,.. để tham mưu đề xuất chỉnh sửa các văn bản quản lý liên quan. Rà soát, xây dựng ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến chế tạo, sản xuất các thiết bị, máy móc phục vụ bảo quản sau thu hoạch. Cập nhật danh sách các đơn vị cung cấp thiết bị liên quan. 4/ Giải pháp tổ chức lại sản xuất, trong đó có tổ chức sản xuất trên bờ, cần xây dựng cơ chế, chính sách và xây dựng đề án tổ chức lại sản xuất cả trên biển và trên bờ. L.T (FICen) CÁC TIN KHÁC
|