|
|
BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN |
|
Thương hiệu biển thúc đẩy phát triển ngành kinh tế thủy sản
(30/06/2012)
Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có tiềm năng lớn phát triển kinh tế thủy sản trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, việc khai thác nguồn lợi thủy sản mới tập trung khai thác các giá trị vật chất, trong khi các giá trị phi vật chất ít được chú trọng, ngư trường khai thác chính vẫn ở các khu vực ven bờ, vùng biển xa bờ có nhiều tiềm năng nhưng chưa được đầu tư đúng mức… Vai trò thương hiệu trong hoạt động thủy sản Mỗi quốc gia, dù muốn hay không, đều có sẵn một thương hiệu, nghĩa là một số ấn tượng đã được định hình trong tâm trí công chúng nói chung và người tiêu dùng nói riêng, để từ đấy chi phối hành vi mua sắm của họ. Việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm đem lại từ một hệ quả biện chứng giữa 3 thực thể là thương hiệu quốc gia, thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu của sản phẩm. Cùng một nhãn hiệu sản phẩm, theo cùng một tiêu chuẩn chung của nhà sản xuất nhưng sản xuất tại các quốc gia khác nhau việc đón nhận sản phẩm cũng khác nhau. Lĩnh vực thủy sản cũng không nằm ngoài quy luật này, việc các sản phẩm thủy sản được gắn với nước sản xuất sản phẩm đó chính như nước sản xuất hay như tên tiếng Anh là “Made in Vietnam” hay “Made by Vietnam” mà thực chất đây là các thương hiệu quốc gia. Những năm sau giải phóng Miền Nam, nền kinh tế của Việt Nam rất khó khăn, nhưng xuất khẩu thủy sản đã đóng vai trò quan trọng, tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước. Đi cùng với thời gian, xuất khẩu thủy sản liên tục tăng trưởng, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 200 triệu USD của những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước đến năm 2011 kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã đạt trên 6,1 tỷ USD. Sản phẩm thủy sản đã xuất khẩu ra 140 nước trên thế giới. Với thương hiệu “Made in Vietnam”, các sản phẩm thủy sản Việt Nam đã từng bước khẳng định được thương hiệu và chỗ đứng trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, trong thực tế, giá bán các sản phẩm thủy sản của Việt Nam thường thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia… dẫn đến hiệu quả kinh tế đạt được thấp. Một trong những nguyên nhân chính là thương hiệu thủy sản quốc gia “made in Vietnam” chưa thực sự gây được niềm tin và đi vào lòng người tiêu dùng. Đặc biệt tại các thị trường khó tính như Bắc Âu hay Bắc Mỹ, nơi mà các sản phẩm thủy sản có giá bán rất cao nhưng người tiêu dùng đã có ý thức trong định hướng tiêu thụ sản phẩm. Các sản phẩm phải sạch, phải được khai thác, nuôi trồng, bảo quản, chế biến thân thiện với môi trường, quốc gia xuất khẩu hàng hóa phải áp dụng các biện pháp bảo vệ, bảo tồn các hệ sinh thái và các loài động thực vật thủy sản quý, hiếm, thúc đẩy hoạt động kinh tế thủy sản bền vững.. Ý thức đầy đủ về vấn đề này trong nhiều năm qua, ngành thủy sản đã có nhiều bước đi, nhiều giải pháp để xây dựng hình ảnh sản phẩm thủy sản Việt Nam tốt đẹp hơn trong mắt người tiêu dùng trong nước và trên thế giới. Trong đó có thể kể đến một vài mô hình mang tính chất điển hình và tạo được những thành công nhất định như thương hiệu nghêu Bến Tre. Từ năm 2004-2008, nghề nuôi nghêu Bến Tre đã được Hội đồng Quản lý biển Quốc tế (MSC) quan tâm đưa vào danh sách đánh giá nghề khai thác biển theo tiêu chuẩn MSC và tổ chức WWF hỗ trợ kinh phí thuê tư vấn, Công ty TNHH Moody Marine đã được chọn để đánh giá nghề khai thác nghêu của Bến Tre dựa trên tiêu chí MSC. Nghề sản xuất và quản lý khai thác nghêu Bến Tre đã chính thức được Hội đồng Quản lý biển quốc tế MSC, quỹ Quốc tế và Bảo vệ thiên nhiên WWF cấp chứng nhận đạt tiêu chí MSC đầu tháng 11/2009. Đây là sản phẩm thủy sản đầu tiên ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á đạt được chứng nhận sản phẩm thủy sản sinh thái đạ chất lượng toàn cầu. Các cơ sở chế biến, các nhà phân phối, các đơn vị bán buôn và bán lẻ sản phẩm được sử dụng logo MSC trên các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ từ nghề khai thác này. Ngay trong năm 2009, sau khi có được chứng nhận xuất khẩu nghêu của cả nước đạt 17.462 tấn, trị giá trên 37,2 triệu USD, tăng 49,6% về khối lượng và 50,3% về giá trị so với cùng kỳ 2008. Trong bối cảnh xúc tiến thương mại ở Việt Nam gặp khó khăn thì chứng chỉ MSC có giá trị như tấm giấy thông hành bảo đảm phát triển thủy sản an toàn và là thương hiệu bảo hộ cho các sản phẩm thủy sản Việt Nam. Khi được sử dụng logo MSC các sản phẩm nghêu Bến Tre sẽ dễ dàng thâm nhập các thị trường khó tính. Tuy nhiên, đi cùng với “danh hiệu” MSC là một cơ chế bảo hộ, bảo tồn, bảo vệ và phát triển đặc thù dành cho con nghêu tỉnh Bến Tre. Sản xuất nước mắm là nghề thủ công truyền thống lâu đời của cư dân huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Nước mắm Phú Quốc từ lâu đã nổi tiếng bởi hương vị thơm ngon rất đặc trưng do sản xuất hoàn toàn bằng nguyên liệu cá cơm cộng với bí quyết gia truyền của các nhà thùng trên đảo. Có một thực tế, nước mắm Phú Quốc của Việt Nam ngày càng nổi tiếng thì vẫn đang tồn tại loại nước mắm Phú Quốc sản xuất tại Thái Lan, hay thương hiệu nước mắm Phú Quốc bị một doanh nghiệp Mỹ là Viet Huong Fishsauce giành quyền đăng ký bảo hộ từ năm 1982. Theo đó, các sản phẩm của công ty từ năm 1982 đến nay đều sử dụng nhãn hiệu “nước mắm Phú Quốc” có hình con cá cơm, đảo Phú Quốc và bản đồ Việt Nam xuất hiện ở nhiều nước châu Âu, Úc, Thía Lan, Trung Quốc… nhưng là sản phẩm của Viet Huong Fishsauce gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và sản xuất kinh doanh của loại sản phẩm nổi tiếng này. Phát triển Chỉ dẫn địa lý cho phép tạo ra lợi thế nhờ những đặc trưng và sự nổi tiếng của sản phẩm, từ đó làm tăng giá trị sản xuất, thương mại của các cơ sở, doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Chỉ dẫn địa lý “Phú Quốc” cho sản phẩm nước mắm là một trong những sản phẩm đang được nhà nước hỗ trợ xây dựng và phát triển theo hướng này. Đây cũng là giải pháp hữu hiệu cho loại đặc sản nổi tiếng này. Với những đặc trưng đó sản phẩm nước mắm Phú Quốc là sản phẩm đầu tiên của ngành thủy sản được triển khai đăng ký tên gọi xuất xứ. Chiến lược xây dựng thương hiệu biển của Việt Nam Thể hiện rõ Việt Nam là một quốc gia có trách nhiệm trong việc quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng hiệu quả, bền vững, đi kèm với đó là an sinh xã hội từng bước được nâng cao, đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng ngư dân, nhất là ngư dân khai thác hải sản, Bộ NN&PTNT đã xây dựng, trình Chính phủ ban hành và tổ chức, triển khai thực hiện Luật thủy sản và các chính sách hỗ trợ cho ngư dân. Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng sản phẩm là một chiến lược quan trọng lâu dài để phát triển thương hiệu biển. Để xây dựng được “thương hiệu biển” cho các sản phẩm thủy sản của Việt Nam, hay nói khác đi, để người tiêu dùng thật sự tin tưởng vào các sản phẩm thủy sản mang thương hiệu Việt Nam, yếu tố về chất lượng sản phẩm phải được đặt lên hàng đầu. Trong các năm qua, công tác bảo quản sản phẩm giảm tổn thất sau thu hoạch trong khai thác hải sản rất được quan tâm. Tuy nhiên, tổn thất sau khai thác hải sản ở Việt Nam hiện vẫn là bài toán cần có lời giải. Theo ước tính tổn thất sau thu hoạch trong khai thác thủy sản chiếm khoảng trên 20% cả về chất lượng lẫn sản lượng. Như vậy, mỗi năm cả nước mất khoảng trên dưới 400 ngàn tấn hải sản, tương đương với gần 8 ngàn tỷ đồng/năm. Tổ chức lại sản xuất trên biển được xem là một trong những giải pháp quan trọng, góp phần giảm tổn thất sau khai thác hải sản trên các tàu cá, vì vậy trong những năm qua Bộ NN&PTNT, Tổng cục Thủy sản đã chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tổ chức lại sản xuất trên các vùng biển, như tăng cường chất lượng dự báo ngư trưởng, chỉ đạo khai thác theo mùa vụ (vụ cá bắc, cá nam), tổ chức lại công tác hậu cần dịch vụ phục vụ khai thác, xây dựng và ban hành các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác trên biển… và đặc biệt trong việc tổ chức sản xuất trên biển theo tổ, đội, kết hợp tàu khai thác với tàu thu gom, vân chuyển, tàu mẹ - tàu con; kết hợp giữa chủ tàu khai thác với các tổ chức, cá nhân thu mua, tiêu thụ sản phẩm. Hợp tác quốc tế và tăng cường quảng bá hoạt động thủy sản Tăng cường ký kết và thực hiện hiệu quả các hiệp định nghề cá song phương, tiến hành đàm phán ký kết các Hiệp định nghề cá song phương với các nước trong khối ASEAN (Brunei, Myanmar, Malaysia, Indonesia) và các nước Nam Châu Phi. Đây là các nước có nguồn lợi hoặc gần các vùng biển quốc tế có nguồn lợi hải sản phong phú nhưng chưa khai thác hết tiềm năng, lại là các nước có quan hệ đối tác thân thiện với Việt Nam để cử các đội tàu khai thác xa bờ đến các nước này khai thác hải sản. Từng bước hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để hội đủ điều kiện để tham gia các Hiệp định quốc tế như Hiện định về đàn cá di cư, hiệp định về biện pháp các quốc gia có cảng, gia nhập các tổ chức quản lý nghề cá khu vực, mà trước mắt là Tổ chức Nghề cá Trung Tâu Thái Bình Dương (WCPFC) để có thể đảm bảo sản phẩm thủy sản của Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường của các nước. Đồng thời, tàu cá Việt Nam cũng có thể tham gia khai thác tại các vùng nước thuộc quyền quản lý của tổ chức này. Phạm Ngọc Tuấn CÁC TIN KHÁC
|