Chỉ có 13% các đại dương trên thế giới có các hệ sinh thái nguyên vẹn (19-03-2019)

Một nghiên cứu mới đã tìm thấy con người đã xóa bỏ hầu hết các phần nguyên sơ của các đại dương trên thế giới.
Chỉ có 13% các đại dương trên thế giới có các hệ sinh thái nguyên vẹn
Ảnh minh họa

Trong bản đồ toàn cầu đầu tiên về tác động của con người đến môi trường biển, một nhóm các nhà khoa học từ Úc, Canada và Hoa Kỳ đã chứng minh rằng một vài góc trên toàn cầu đã bị ảnh hưởng bởi việc vận chuyển, khai thác mỏ và đánh bắt cá thương mại. Chỉ có 13% các đại dương trên thế giới có các hệ sinh thái nguyên vẹn và không có các tác động này – đây là định nghĩa của nhóm về vùng hoang dã ở biển. Và trong số các vùng hoang dã dưới nước còn lại, dưới 5% diện tích vùng này được bảo vệ.

Don Kendall Jones, một nhà khoa học bảo tồn thuộc Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã, cho biết trong một cuộc phỏng vấn: “Chúng tôi biết rằng những nơi độc đáo và có giá trị như thế nào trên đại dương không chịu tác động lớn của con người. Đây là ngôi nhà của nhiều loại sinh vật, bao gồm nhiều loài săn mồi hàng đầu trên đại dương.

Jones, cũng là một ứng cử viên tiến sĩ tại Đại học Queensland, Úc cho biết: “Nhưng không giống như sự hiểu biết của chúng ta về sự hoang dã đã biến mất trên đất liền như thế nào, chúng tôi không có bản đồ toàn cầu thực sự về những địa điểm đó trên biển”.

Để phát triển bản đồ đó, Jones và các đồng nghiệp đã vạch ra vị trí của 19 yếu tố gây stress của con người trên các đại dương thế giới, từ đánh bắt cá và vận chuyển đến các yếu tố trên đất liền như dòng chảy phân bón. Sau đó, họ chọn ra những nơi trong môi trường biển ít chịu các tác động kết hợp nhất. Những điểm này có diện tích 54 triệu kilômét vuông (21 triệu dặm vuông), hay 13,2% của môi trường biển.

Nhóm nghiên cứu cũng tập trung vào 16 khu vực khác nhau trong đại dương, chỉ ra được sự chênh lệch lớn trong việc phân bố vùng hoang dã biển. Ví dụ, các khu vực của Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương giữ hơn 16 triệu km vuông (6,2 triệu dặm vuông) của vùng hoang dã. Nhưng khu vực xung quanh Nam Phi còn ít hơn 2.000 kilômét vuông (772 dặm vuông). Jones cho biết các nhà nghiên cứu đưa ra phần phân tích này để giúp xác định chính xác vùng hoang dã tốt nhất còn lại trong các khu vực này là các mục tiêu tiềm năng để bảo tồn.

Nghiên cứu, được công bố trên tạp chí Current Biology, nhấn mạnh sự hiếm có - nhưng không phải là sự vắng mặt hoàn toàn - của vùng hoang dã biển gần các khu dân cư đông đúc và các khu vực ven biển. Những điểm này cũng là nơi có rất nhiều khu bảo tồn biển. Các khu vực này vẫn là môi trường sống của các loài có nguy cơ tuyệt chủng hoặc các hệ sinh thái bị đe dọa, như với các rạn san hô, nhưng rất ít trong số này vẫn có thể được coi là hoang dã.

Khu vực hoang dã ở biển xuất hiện nhiều nhất ở hai cực và các vùng biển khơi. Trên thực tế, thử thách vượt qua băng biển quanh Nam Cực và Bắc Cực và những khoảng cách rộng lớn phải di chuyển để đến các điểm xa xôi trong đại dương đã bảo vệ các khu vực này.

Nhưng Jones cho biết những tiến bộ trong công nghệ đã cho phép con người thăm dò sâu hơn vào đại dương để tìm kiếm cá. Và biến đổi khí hậu đang làm tan chảy băng biển, mở ra những phần mới của Bắc Cực một thời không thể tiếp cận để đánh bắt và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Những mối đe dọa này đối với vùng hoang dã ở biển cho thấy chúng ta có thể cần phải thay đổi cách thức bảo vệ những nơi này.

Điều đó sẽ đòi hỏi sự hợp tác quốc tế, vì nó đòi hỏi các quốc gia hợp tác để bảo vệ các phần của đại dương nằm ngoài phạm vi quyền tài phán duy nhất. Các tổ chức quản lý nghề cá các khu vực trên hành tinh, chứ không phải các quốc gia riêng lẻ, có thể hợp tác để hạn chế đánh bắt cá thương mại ở các khu vực hoang dã.

Một vấn đề khác là hơn một nửa số đánh bắt trên các vùng biển khơi được trợ cấp.

Các tác giả lưu ý rằng Liên Hợp Quốc đang nghiên cứu chi tiết về Thỏa thuận toàn cầu Paris về Đại dương. Hiệp ước ràng buộc về mặt pháp lý nhằm bảo vệ đa dạng sinh học ngoài biển và Jones cho biết họ hy vọng Hiệp định sẽ sẵn sàng để ký kết vào năm 2020.

Các thỏa thuận quy mô rộng như vậy có thể giúp đối mặt với các áp lực mà con người ít kiểm soát hơn, chẳng hạn như biến đổi khí hậu và duy trì các khu vực hoang dã này như những nơi trú ẩn thiết yếu trong tương lai.

Ông Jones cho biết: “Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những nơi nguyên vẹn với mức độ tác động của con người thấp có thể chống chịu tốt hơn với biến đổi khí hậu hoặc dòng chảy trên đất liền. Bảo tồn những nơi nguyên vẹn này có thể là một lựa chọn tốt để cho phép các loài và đa dạng sinh học thích nghi và phục hồi sau những tác động của biến đổi khí hậu”.

HNN (Theo mongabay)

Ý kiến bạn đọc

Tin khác