Tọa đàm “Tình hình khai thác, Thương mại và Quản lý nguồn lợi cá Ngừ của một số quốc gia trên thế giới” (18-05-2017)

Ngày 15/5/2017, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản đã tổ chức buổi tọa đàm “Tình hình khai thác, Thương mại và Quản lý nguồn lợi cá Ngừ của một số quốc gia trên thế giới” với sự hỗ trợ và trình bày của Tiến sĩ Hidenao Watanabe – Chuyên gia tư vấn của Tổng cục Thủy sản.
Tọa đàm “Tình hình khai thác, Thương mại và Quản lý nguồn lợi cá Ngừ của một số quốc gia trên thế giới”

Tại buổi tọa đàm, Tiến sĩ Watanabe đã trình bày những thông tin cơ bản về đặc điểm một số loài cá ngừ có giá trị kinh tế cao, được khai thác chủ yếu như cá ngừ vây xanh, cá ngừ vây xanh phương Nam, cá ngừ mắt to, cá ngừ vây vàng, cá ngừ Albacore và cá thu ngừ (skipjack). Tiến sĩ Watanabe cũng giới thiệu các phương pháp khai thác cá ngừ đang được áp dụng tại nhiều quốc gia hiện nay (như câu vàng, lưới vây, câu tay và câu chạy). Trong bài trình bày của mình, ông đã trình bày thống kê sản lượng khai thác cá ngừ từ năm 1950 đến 2013 trên toàn thế giới, theo đó sản lượng cá ngừ vây xanh gần như không có sự biến động mạnh, trong khi cá thu ngừ (skipjack) và cá ngừ mắt to, vây vàng đều tăng sản lượng đáng kể. Tổng sản lượng khai thác cá ngừ trên toàn thế giới năm 2013 là 5,072 triệu tấn, trong đó sản lượng khai thác cá thu ngừ là 3,027 triệu tấn, cá ngừ vây vàng là 1,327 triệu tấn, cá ngừ mắt to là 435 nghìn tấn, cá ngừ Albacore là 247 nghìn tấn, cá ngừ vây xanh là 36 nghìn tấn. 5 quốc gia khai thác cá ngừ lớn nhất thế giới năm 2013 là Inđônêxia (720 nghìn tấn), Nhật Bản (442 nghìn tấn), Philippin (357 nghìn tấn), Đài Loan (354 nghìn tấn) và Tây Ban Nha (349 nghìn tấn).

Hiện nay Nhật Bản là thị trường tiêu thụ cá ngừ lớn nhất của thế giới. Năm 2013, Nhật Bản khai thác 442 nghìn tấn cá ngừ, trong đó cá thu ngừ là 270 nghìn tấn, cá ngừ Albacore 62 nghìn tấn, cá ngừ mắt to 50 nghìn tấn, cá ngừ vây vàng 49 nghìn tấn và cá ngừ vây xanh11 nghìn tấn. Năm 2014, sản lượng cá ngừ khai thác của Nhật Bản đáp ứng khoảng 70% nhu cầu của nước này. Các nhà xuất khẩu cá ngừ lớn vào Nhật Bản là Đài Loan, Inđônêxia, Trung Quốc, Hàn Quốc. Giá cá thu ngừ, mắt to và vây vàng tại thị trường Nhật Bản không có nhiều biến động, trái ngược với giá cá ngừ vây xanh. Điều này được lý giải do sản lượng khai thác cá ngừ vây xanh luôn ở mức thấp, do đó giá thị trường chịu tác động mạnh của quan hệ cung cầu.

Cũng tại tọa đàm, tiến sĩ Watanabe đã giới thiệu một số hoạt động quốc tế có liên quan đến vấn đề quản lý nguồn lợi cá ngừ trên phạm vi toàn cầu và nguyên tắc quản lý nguồn lợi cá ngừ được quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS 1982), cụ thể là các Tổ chức quản lý nghề cá khu vực (RFMOs). Theo đó, tháng 3/2010, tại Hội nghị Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) tại Qatar, Cá ngừ vây xanh Đại Tây Dương đã được đề xuất bổ sung vào Phụ lục I (gồm các loài bị đe dọa tuyệt chủng và bị cấm buôn bán quốc tế) của CITES, song đã bị từ chối. Tháng 11/2014, Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) đã đưa cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương vào danh mục Bị đe dọa, sắp nguy cấp trong Sách đỏ. Điều này cho thấy áp lực ngày càng tăng của yêu cầu quản lý bền vững nguồn lợi cá ngừ nói chung, cá ngừ vây xanh nói riêng trên phạm vi toàn cầu.

Hương Trà

Ý kiến bạn đọc

Tin khác