Thủy sản Việt Nam 60 năm trưởng thành, phát triển và hội nhập     |     Lễ kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống ngành Thủy sản được tổ chức tại Quảng Ninh và truyền hình trực tiếp trên kênh VTV2 từ 20h00 – 21h30 ngày 31/3/2019

Nghiên cứu giúp bảo tồn loài cá chình Nhật Bản đang bị đe dọa (12-03-2019)

Các nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ sự phân bố của cá chình Nhật Bản bằng cách phân tích DNA môi trường (eDNA) từ các mẫu nước sông. Điều này có thể cho phép các cuộc khảo sát nhanh hơn và hiệu quả hơn về quần thể cá chình Nhật Bản và giúp bảo tồn loài động vật đang bị đe dọa này.
Nghiên cứu giúp bảo tồn loài cá chình Nhật Bản đang bị đe dọa
Ảnh minh họa

Cá chình là loài cá di cư sinh sản trong đại dương và sinh trưởng dọc theo bờ biển và trên các sông. Có 16 loài được biết đến trên thế giới, phân bố ở 150 quốc gia. Cá chình Nhật Bản (Anguilla japonica) được tìm thấy trên khắp Đông Á. Từ thời cổ đại, loài này đã là một phần quan trọng của Nhật Bản. Tuy nhiên, sản lượng đánh bắt cá chình đã giảm mạnh kể từ những năm 1970 và vào năm 2014, loài này đã được thêm vào Danh sách đỏ các loài bị đe dọa của Liên minh Quốc tế (IUCN).

Hầu hết các khảo sát trên sông về loài cá chình Nhật Bản sử dụng biện pháp xung điện. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian và nguồn lực, và đối với các loài phân bố rộng rãi, nó có thể không thu thập đủ dữ liệu. Các cuộc khảo sát thường được thực hiện vào ban ngày, trong khi cá chình ẩn nấp giữa thảm thực vật.

Công nghệ eDNA tiến bộ nhanh chóng có thể theo dõi các dạng sinh vật sống dưới nước thông qua chiết tách và phân tích DNA có trong nước, mà không bắt giữ các sinh vật. Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã điều tra xem liệu phân tích eDNA có thể được sử dụng để chỉ ra sự phân bố của cá chình Nhật Bản hay không. Họ đã thu thập các mẫu mỗi mẫu chứa 1 lít nước từ 125 vị trí ở thượng nguồn và hạ lưu ở 10 con sông ở Nhật Bản và phân tích eDNA từ các mẫu này bằng hệ thống Phản ứng chuỗi polymerase PCR thời gian thực. Đồng thời họ đã thực hiện một cuộc khảo sát sử dụng biện pháp xung điện ở cùng địa điểm và so sánh kết quả này với kết quả phân tích eDNA.

EDNA cá chình Nhật Bản đã được tìm thấy ở 91,8% các địa điểm nơi cá chình đã được xác nhận bằng cách sử dụng xung điện (56 trên 61 địa điểm) và eDNA cũng được phát hiện ở 35 khu vực khác (chủ yếu là thượng nguồn) nơi không tìm thấy cá thể cá chình. Điều này cho thấy phân tích eDNA nhạy hơn các khảo sát thông thường trong việc phát hiện sự hiện diện của cá chình Nhật Bản trên sông. Dữ liệu thu được từ phương pháp xung điện về số lượng và sinh khối cá chình cũng tương quan dương với nồng độ eDNA, cho thấy eDNA có thể giúp chúng ta ước tính mức độ phong phú và sinh khối của cá chình Nhật Bản.

Trong nghiên cứu này, phương pháp sử dụng xung điện cần từ ba người trở lên cho mỗi dòng sông và mất ít nhất ba ngày. Việc thu thập các mẫu nước để phân tích eDNA chỉ cần hai người, mất tối đa nửa ngày và việc xử lý dữ liệu chỉ cần một người trong một ngày rưỡi. Khi thực hiện khảo sát về phân phối loài trên quy mô lớn, phương pháp phân tích eDNA hiệu quả hơn về mặt nhân lực và thời gian.

Phương pháp này có khả năng có thể khảo sát số lượng loài ở quy mô rộng hơn. Phương pháp này không làm sinh vật chết, khiến đây là phương pháp lý tưởng để theo dõi các loài có nguy cơ tuyệt chủng. Nhóm nghiên cứu hiện đang sử dụng phân tích eDNA để theo dõi cá chình ở Nhật Bản và ở nước ngoài: nó có thể được sử dụng như một phương pháp thống nhất trên phạm vi quốc tế cho các loài phân bố rộng rãi. Đây có thể là một trợ giúp lớn trong việc bảo tồn và sử dụng bền vững các loài cá chình trên toàn thế giới.

Phương pháp phân tích eDNA cũng có hiệu quả trong việc đối phó với sự xâm lấn của các loài cá chình nước ngoài. Trong 20 năm đã có báo cáo về các loài cá chình nước ngoài (cá chình châu Âu và cá chình Mỹ) được thả vào các vùng nước Nhật Bản. Những loài này trông giống như cá chình Nhật Bản, khiến chúng khó phát hiện. Chúng cũng sống lâu nên có thể tác động đến hệ sinh thái trong thời gian dài. Bằng cách thực hiện một cuộc khảo sát trên phạm vi rộng bằng phân tích eDNA, chúng ta có thể nhanh chóng xác định các loài cá chình nước ngoài và phân bố của chúng.

HNN (Theo sciencedaily)

Ý kiến bạn đọc

Tin khác