Nuôi trồng thủy sản tại Vĩnh Long: Quản lý tốt các yếu tố đầu vào (03-11-2020)

Tính đến hết tháng 9/2020, Chi cục Thủy sản (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long) đã tổ chức 9 cuộc kiểm tra chuyên ngành thủy sản; trong đó, có 2 cuộc kiểm tra việc chấp hành các quy định về nuôi trồng thủy sản, 1 cuộc kiểm tra việc chấp hành các quy định về sản xuất, kinh doanh giống thủy sản và thức ăn thủy sản.
Nuôi trồng thủy sản tại Vĩnh Long: Quản lý tốt các yếu tố đầu vào

Trong tháng 9, các yếu tố môi trường thường xuyên biến động do thời tiết nắng nóng, kèm những cơn mưa dông trong giai đoạn bắt đầu chuyển sang mùa mưa, ảnh hưởng của bão và đặc biệt là chất lượng nước trên sông biến động (mùa nước son) chính là những nguyên nhân khiến xuất hiện bệnh trên cá điêu hồng (như: xuất huyết, phù mắt, ký sinh) gây ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Vì vậy, Chi cục Thủy sản đã khuyến cáo các cơ sở nuôi nên chọn con giống lớn, khỏe mạnh thả nuôi để hạn chế hao hụt. Đồng thời thực hiện tốt khâu neo đậu lồng bè, kiểm tra thường xuyên các dây neo, tó… để chủ động phòng, tránh thiệt hại do thời tiết diễn biến bất thường. Bên cạnh đó, Chi cục Thủy sản cũng tăng cường tuyên truyền, vận động, hướng dẫn các chủ cơ sở nuôi tuyệt đối không sử dụng kháng sinh cấm trong sản xuất, góp phần đảm bảo chất lượng sản phẩm đạt an toàn thực phẩm khi đưa ra thị trường. Lũy kế 9 tháng đã thực hiện kiểm tra 83 hộ nuôi thủy sản, 13 hộ sản xuất, kinh doanh giống thủy sản, 4 cơ sở kinh doanh thức ăn thủy sản, lấy 4 mẫu thức ăn thủy sản để xét nghiệm chất lượng và lấy 3 mẫu thủy sản nuôi. Kết quả: Không có vụ vi phạm về nuôi.

Giống thủy sản

Hiện toàn tỉnh có 02 trại sản xuất cá tra bột với công suất khoảng 560 triệu bột/năm (gồm: trại giống thuộc Trung tâm giống Vĩnh Long và Trung Tâm giống thủy sản của công ty CASEAMEX huyện Trà Ôn). Diện tích ương cá tra giống 9 tháng đầu năm 49,28 ha (45 hộ ương), giảm 23,2% (14,9 ha) so với cùng kỳ năm 2019. Tập trung sản xuất chủ yếu ở các huyện Long Hồ, Tam Bình, Mang Thít, Bình Tân, Vũng Liêm và Trà Ôn. Sản lượng ước 9 tháng đầu năm: Cá tra bột đạt 34,5 triệu, giảm 61,7% (55,5 triệu bột) so với cùng kỳ 2019, đạt 17,3% kế hoạch năm (200 triệu); Cá giống đạt 21,73 triệu con, giảm 40,6% (14,87 triệu con) so với cùng kỳ 2019, đạt 43,5% kế hoạch năm (50 triệu). Tình hình sản xuất cá tra bột trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long 9 tháng đầu năm giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2019. Do giá cá tra nguyên liệu giảm thấp kéo dài, khiến giá giống cá tra giảm theo, các cơ sở sản xuất giống thua lỗ nặng nên nhu cầu bột cá tra thấp, trại giống thuộc Trung tâm giống Vĩnh Long hầu như không hoạt động sản xuất bột cá tra. Vì vậy, sản lượng sản xuất bột cá tra của tỉnh giảm đáng kể (trong khi năng lực sản xuất là rất lớn).

Về sản xuất giống thủy đặc sản, hiện toàn tỉnh có 13,8 ha, tăng 58,6% (5,1 ha) so với cùng kỳ, tổng cộng có 50 hộ sản xuất giống thủy đặc sản, sản lượng 9 tháng đầu năm ước đạt 10,9 triệu con, tăng 54% (3,82 triệu) so với cùng kỳ năm 2019; Trong đó: Lươn giống 7,45 ha, tăng 320% (5,6 ha) so cùng kỳ, với 25 hộ sản xuất, sản lượng ước đạt 7,45 triệu con, tăng 86,2% (3,45 triệu) so với cùng kỳ, đạt 165,6% kế hoạch năm (4,5 triệu). Bên cạnh đó, sản lượng lươn bột đạt 11,07 triệu bột.  Baba/cua đinh 0,81 ha (07 hộ), sản lượng ước đạt 0,4 triệu con; Chạch lấu 0,82 ha (3 hộ), sản lượng ước đạt 0,6 triệu con; Bống tượng 0,2 ha (1 hộ), sản lượng ước đạt 0,1 triệu con; Cá chình 2,5 ha (2 hộ), sản lượng ước đạt 0,5 triệu con; Ếch 1,04 ha (6 hộ), sản lượng ước đạt 1,65 triệu con; Cá lăng 0,5 ha (2 hộ), sản lượng ước đạt 0,15 triệu con. Tai tượng 0,01 ha (1 hộ), sản lượng ước đạt 0,01 triệu con. Cá sấu 0,6 ha (1 hộ), 9 tháng đầu năm 2020 chưa thu hoạch.

Bên cạnh đó, địa bàn tỉnh Vĩnh Long còn có 327 cơ sở sản xuất giống cá basa, điêu hồng, rô phi và các loài thủy sản khác, với tổng diện tích 147 ha ương cá giống các loại. Chủ yếu tập trung ở hầu hết các huyện/thị trong tỉnh, giảm 25,1% (49,29 ha) so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, có 01 hộ ương giống cá basa với diện tích ương dưỡng 1,5 ha; Ước sản lượng đạt 0,08 triệu con giống. 9 tháng đầu năm, sản lượng cá bột ước đạt 245 triệu con, giảm 8,6% (23 triệu con) so với cùng kỳ; Cá giống ước đạt 121,96 triệu con (basa, cá hú, điêu hồng, rô phi và cá trắng các loại), tăng 43,4% (36,9 triệu con) so với cùng kỳ, trong đó giống cá điêu hồng/rô phi là 46,06 triệu con, đạt 115,2% kế hoạch năm (40 triệu). Toàn tỉnh hiện có 15 cơ sở kinh doanh giống thủy sản và 12 cơ sở sản xuất - kinh doanh giống thủy sản.

Thức ăn thủy sản và Sản phẩm xử lý môi trường

Hiện tỉnh Vĩnh Long có 65 cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn thủy sản và sản phẩm xử lý môi trường (trong đó: 57 cơ sở kinh doanh thức ăn thủy sản; 07 cơ sở sản xuất thức ăn thủy sản; 01 cơ sở sản xuất sản phẩm xử lý môi trường). Công suất và sản lượng của các cơ sở sản xuất như sau: 04 cơ sở sản xuất thức ăn thủy sản (Công ty TNHH De Heus, Công ty CJ Vina Agri, Công ty Gò Đàng, Công ty TNHH New Hope) với tổng công suất thiết kế 651.000 tấn/năm, ước sản lượng 9 tháng đầu năm đạt 183.236 tấn; 03 cơ sở sản xuất thức ăn thủy sản bổ sung (Công ty TNHH TM&SX Viễn Đông; Công ty TNHH TM&SX Nam Phát, Công ty TNHH Công Nghệ Sinh Học GreenFarm) với tổng công suất thiết kế 1.955 tấn/năm, ước sản lượng 9 tháng đầu năm đạt 36,4 tấn; 01 cơ sở sản xuất sản phẩm xứ lý môi trường (Công ty Phát Triển Kỹ Thuật Vĩnh Long BIOTED) với tổng công suất thiết kế 80.000 lít/năm, ước sản lượng 9 tháng đầu năm đạt 40.000 lít.

Liên kết - Gia tăng hiệu quả sản xuất

Hiện 68/206 cơ sở nuôi cá tra có liên kết sản xuất với 108,34 ha (chiếm 25,6% tổng diện tích thả nuôi), sản lượng ước đạt 26.844 tấn (chiếm 39,3% tổng sản lượng nuôi 9 tháng đầu năm 2020) trong đó: (1) Liên kết với nhà máy chế biến/xuất khẩu nguyên liệu cá tra: 07 cơ sở nuôi ký Hợp đồng với nhà máy chế biến thủy sản theo hình thức nhà máy giao thức ăn cho người nuôi và sau đó sẽ thu hồi sản phẩm. (2) Liên kết với nhà máy chế biến thức ăn: có 21 cơ sở nuôi ký Hợp đồng với nhà máy chế biến thức ăn và nhà máy sẽ đứng ra ký Hợp đồng bán sản phẩm cho cơ sở nuôi để thu hồi lại tiền thức ăn. (3) Liên kết với cửa hàng kinh doanh cung cấp vật tư: có 14 cơ sở ký Hợp đồng với của hàng kinh doanh thức ăn và thuốc thủy sản để nhận thức ăn khi cá được 300 g/con, khi xuất bán thì cửa hàng sẽ đứng ra ký Hợp đồng bán sản phẩm thu hồi lại tiền thức ăn. Ngoài ra còn có 02 cơ sở nuôi có nhà máy chế biến thủy sản hoặc nhà máy thức ăn với vùng nuôi lớn, chủ động được nguồn nguyên liệu tại chỗ đến 70% và 24 cơ sở nuôi liên kết với nhau qua hình thức hoạt động Hợp tác xã.

Toàn tỉnh có 97/259 cơ sở nuôi lồng/bè có liên kết trong sản xuất (chiếm 37,2% tổng số cơ sở nuôi), sản lượng ước đạt 5.159 tấn (chiếm 34,7% tổng sản lượng nuôi 9 tháng đầu năm 2020) trong đó: (1) Liên kết với nhà máy thức ăn thủy sản: có 08 cơ sở ký Hợp đồng với nhà máy thức ăn thủy sản để nhận thức ăn nhưng không bao tiêu sản phẩm. (2) Liên kết với cửa hàng kinh doanh thức ăn: 32 cơ sở. (3) Liên kết với đại lý bán thức ăn và thu cá thương phẩm: có 57 cơ sở nuôi ký Hợp đồng với cửa hàng hoặc đại lý thức ăn để nhận thức ăn và thu mua lại sản phẩm).

Khống chế không để dịch bệnh bùng phát

Trong 9 tháng đầu năm, Chi cục Thủy sản Vĩnh Long đã thu 62 mẫu cá để xét nghiệm, chẩn đoán bệnh và hướng dẫn người nuôi cách phòng trị bệnh hiệu quả. Hiện nay, bệnh trên thủy sản xảy ra ở hầu hết các vùng nuôi, do thời tiết trong giai đoạn chuyển mùa, từ mùa khô sang mùa mưa, xuất hiện mưa dông, biên độ nhiệt dao động giữa ngày và đêm khá lớn, tạo điều kiện phát sinh bệnh trên thủy sản. Đối với cá tra nuôi thương phẩm: Thời tiết nắng nóng/mưa dông dẫn đến các yếu tố môi trường thường xuyên biến động (nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm lớn) khiến cá tra nuôi thương phẩm thường xuất hiện bệnh xuất huyết, gan thận mủ và trắng gan, trắng mang, tỉ lệ nhiễm bệnh từ 5-10%.

Đối với cá nuôi lồng/bè: Các yếu tố môi trường trên sông luôn biến động (nắng nóng/mưa dông) đã ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nuôi. Chủ yếu là bị bệnh xuất huyết, phù đầu, nổ mắt, thối mang, tỉ lệ nhiễm bệnh từ 5-15%. Ngoài ra, chất lượng con giống kém cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và hiệu quả của nghề nuôi. Thủy đặc sản: Đối với lươn nuôi chủ yếu xuất hiện bệnh xuất huyết nội tạng, mất nhớt, ký sinh, tỉ lệ nhiễm bệnh từ 1-2%. Trên các đối tượng nuôi khác (cá lóc, baba, trê vàng, tai tượng…): Chủ yếu bị bệnh ký sinh trùng và xuất huyết, tỉ lệ nhiễm bệnh từ 1-3%.

 Trước tình trạng trên, Chi cục Thủy sản Vĩnh Long đã theo dõi và hướng dẫn kịp thời các biện pháp phòng trừ dịch bệnh ở các vùng nuôi cá tra thâm canh, vùng nuôi cá lồng/bè và vùng nuôi thủy đặc sản trong tỉnh. Nhờ đó, đạt hiệu quả cao nhất trong phòng trị bệnh thủy sản, khống chế thành công, không để bùng phát dịch bệnh trên tất cả các đối tượng nuôi.

Quan trắc, cảnh bảo môi trường

Trong 9 tháng đầu năm đã thu 328 mẫu nước (72 mẫu nước cấp, 72 mẫu nước ao đại diện, 18 mẫu nước nuôi thủy đặc sản, 18 mẫu nước nuôi lồng bè) và thu 124 mẫu nước cấp vùng nuôi cá tra tập trung (phối hợp Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2) và 34 mẫu nước cấp vùng nuôi cá rô phi và cá tra (phối hợp với Trung tâm Khảo nghiệm, Kiểm nghiệm và Kiểm định nuôi trồng thủy sản), phục vụ công tác quan trắc và cảnh báo môi trường cho các cơ sở nuôi cá tra trọng điểm trên địa bàn tỉnh, đạt 136,7% kế hoạch năm.             

Kết quả là: Các yếu tố thủy lý hóa của mẫu nước cấp vùng nuôi cá tra đều nằm trong giới hạn cho phép theo yêu cầu chất lượng nước cấp vào ao nuôi và nước ao nuôi cá tra. Đa số các yếu tố thủy lý hóa của mẫu nước ao đại diện nằm trong giới hạn cho phép theo yêu cầu chất lượng nước thải từ ao nuôi trước khi thải ra môi trường bên ngoài (riêng chỉ tiêu NH3 trong mẫu nước ao nuôi cá tra của tất cả các ao đại diện đều vượt giới hạn cho phép). Các yếu tố thủy lý hóa của mẫu nước cấp vùng nuôi cá lồng bè và vùng nuôi thủy sản khác nhìn chung nằm trong giới hạn cho phép theo yêu cầu chất lượng nước cấp nuôi cá.

Ngọc Thúy – FICen

Ý kiến bạn đọc

Tin khác