Các loài và vùng địa lý dẫn đầu sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu (09-11-2020)

Những hiểu biết mới mẻ về loài cá có vẩy nào và ở những vùng nào sẵn sàng cho tốc độ tăng trưởng cao nhất trong những năm tới là chủ đề của cuộc thảo luận giữa The Fish Site và chuyên gia Gorjan Nikolik thuộc Rabobank.
Các loài và vùng địa lý dẫn đầu sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu

Nikolik đã nghiên cứu chi tiết hơn về các loài và khu vực mà ông nhìn thấy triển vọng tăng trưởng lớn nhất - những ngôi sao đang nổi của ngành nuôi trồng thủy sản cá có vẩy.

Nhà phân tích thủy sản của Rabobank lập luận: “Về cơ bản, bạn có thể chia ngành nuôi cá có vẩy của thế giới thành ba nhóm chính. Loại thứ nhất bao gồm cá hồi, cá mú và cá tráp biển. Những ngành này đang hoạt động tốt, nhưng có những hạn chế nghiêm trọng đối với sự phát triển của ngành, đặc biệt là việc cung cấp giấy phép hạn chế. Những loài này chủ yếu được nuôi ở phương Tây và phải đối mặt với các quy định về môi trường khá nặng nề, do những lo ngại về môi trường và cho đến khi công nghệ nuôi trồng thủy sản tuần hoàn RAS và nuôi ngoài khơi thực sự xuất hiện, tôi chỉ thấy tỷ lệ tăng trưởng tối thiểu. Đó là những ngành đã phát triển chín muồi và mức tăng trưởng 1-5% mỗi năm là mức tối đa”.

Nikolik cho biết nhóm thứ hai bao gồm các loài cá chép chính và giống như ngành nuôi cá hồi, đây là ngành đã phát triển chín muồi, được phản ánh qua tốc độ tăng trưởng của nó.

Ông phản ánh: “Sản lượng cá chép đang giảm, đặc biệt là ở Trung Quốc, nơi sản lượng giảm từ 5-8% một năm xuống còn 2-3%. Tỷ lệ tăng trưởng ở Ấn Độ vẫn khá tốt, khoảng 5%, từ mức lớn, nhưng nó vẫn là một ngành công nghiệp nhỏ so với Trung Quốc”.

Tuy nhiên, nhóm thứ ba trái ngược rõ rệt với các loài thuộc họ cá hồi, các loài Địa Trung Hải và cá chép, và không chỉ do sự đa dạng của các loài nuôi của ngành.

Nikolik giải thích: “Có rất nhiều loài nuôi thủy sản nổi lên có hai điểm chung - chúng là những loài mới và ngành nuôi các loài này chưa phát triển chín muồi”.

Các loài nước ngọt

Theo Nikolik, có hai loài nuôi nước ngọt đã được thiết lập tốt, mà có thể đã phát triển khá chín muồi nhưng đã sẵn sàng cho một cái gì đó của thời kỳ phục hưng.

Ông lưu ý: “Cá rô phi và cá tra hiện có một câu chuyện rất thú vị. Ban đầu chúng được sản xuất chủ yếu để xuất khẩu - với việc Trung Quốc nuôi cá rô phi cho thị trường Mỹ và Việt Nam nuôi cá tra để xuất khẩu sang cả Mỹ và EU. Tuy nhiên, tất cả điều này đã thay đổi, với thị trường cá tra EU giảm trong thập kỷ qua và xuất khẩu cá rô phi Trung Quốc sang Mỹ giảm (sau chiến tranh thương mại Mỹ-Trung) kể từ năm 2018”.

Do những yếu tố này, cũng như tác động của Covid, động lực của ngành đã thay đổi.

Ông nhận xét: “Mô hình kinh doanh đang phát triển và sinh lời cao nhất là sản xuất địa phương cho địa phương - tức là sản xuất tại địa phương để tiêu thụ cá tươi trong cùng một khu vực”.

Quá trình này đã được thực hiện một phần nhờ vào sự cải thiện di truyền của các loài này, sự cải tiến trong nguồn cung cấp thức ăn và sự phổ biến toàn cầu của công nghệ này.

Nikolik lưu ý: “Những nơi có khí hậu tốt, nguồn cung cấp thức ăn nuôi thủy sản tốt, tiếp cận nguồn nước và thị trường nội địa rộng lớn như Ấn Độ, Brazil và Bangladesh đang phát triển nhanh nhất. Và điều này đang phát triển ở nhiều thị trường, chẳng hạn như tôi có thể thấy sản lượng cá rô phi ở vùng cận Sahara, châu Phi đang tăng rất nhanh. Người dân ở đó coi đây là loại cá có chất lượng tuyệt vời và giá đã giảm xuống, từ 5-6 USD/kg xuống còn 2-3 USD/kg, nghĩa là giờ cá rô phi gần như có thể cạnh tranh với gà về mặt giá cả”.

Các loài sinh vật biển

Theo Nikolik, trong khi sản lượng cá rô phi và cá tra tăng chủ yếu là do nhu cầu địa phương tăng lên, thì sự gia tăng sản lượng của nhiều loài sinh vật biển có một nguyên nhân sâu xa khác.

Ông giải thích: “Việc đánh bắt tự nhiên đã giảm đối với nhiều loài sinh vật biển phổ biến, những loài có hình ảnh đẹp và có thể đạt được giá thị trường tốt, nhưng người tiêu dùng lại gặp khó khăn trong việc tìm nguồn cung cấp. Tuy nhiên, công nghệ đang ngày càng giúp cho việc nuôi những loài này ngày càng trở nên khả thi hơn, nhờ vào sự cải tiến về sự sẵn có của các yếu tố như thức ăn tốt, di truyền tốt, công nghệ nuôi và dây chuyền lạnh cải tiến. Một số tiến bộ này đến từ ngành nuôi cá hồi, một số từ ngành nuôi tôm và một số ngành nuôi thủy sản tại nhà”.

Trong khi có rất nhiều loài trong danh mục này, có hai loài đơn lẻ Nikolik chỉ ra tiềm năng cụ thể của chúng.

Nikolik lưu ý: “Cá vược sọc là một trong số đó. Loài này đang được sản xuất bởi các công ty như Pacifico, ở miền bắc Mexico. Tôi nghĩ đó là một giống loài và một công ty có nhiều tiềm năng. Trang trại nuôi gần Mỹ, đây là một loài được biết đến và phổ biến, có trại giống tốt, tiếp cận nguồn thức ăn tốt, địa điểm tuyệt vời và nhiều sinh khối”.

Nikolik lập luận: “Loài còn lại là cá cam. Rabobank vừa là người cho vay vừa là nhà đầu tư cổ phần vào Công ty Kingfish. Đây là một loại cá có giá trị rất cao và rất phù hợp với cả ẩm thực Nhật Bản (ở dạng tươi) và Ý (ở dạng khô) - cả hai dạng đều có phạm vi toàn cầu. Ngành nuôi loài này cũng không có đối thủ cạnh tranh về khả năng cung cấp liên tục các sản phẩm chất lượng rất đồng đều, có thể được thu hoạch bất cứ khi nào cần mà không cần đông lạnh hoặc vận chuyển bằng đường hàng không đi bất cứ đâu. Khả năng cung cấp sản phẩm tươi mỗi ngày là cách duy nhất để phát triển một loài thành công, việc đánh bắt tự nhiên không thể cạnh tranh”.

HNN (Theo Thefishsite)

Ý kiến bạn đọc

Tin khác