Phát triển bền vững nghề nuôi tôm trên cát (16-05-2017)

Ngày 16/5/2017, tại Hà Tĩnh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với UBND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức Hội nghị “Phát triển bền vững nghề nuôi tôm trên cát”. Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường và Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hà Tĩnh Lê Đình Sơn đồng chủ trì Hội nghị.
Phát triển bền vững nghề nuôi tôm trên cát

Tham dự Hội nghị có đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước, đại diện lãnh đạo các tỉnh vùng duyên hải miền Trung, các cơ quan quản lý ngành Nông nghiệp từ trung ương đến địa phương, các nhà khoa học, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh liên quan đến ngành tôm, cùng các cơ quan, báo đài đến đưa tin Hội nghị.

Tôm nước lợ là đối tượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) chủ lực, có vai trò quan trọng đối với kinh tế, xã hội, đặc biệt là tại các địa phương ven biển. Hiện kim ngạch xuất khẩu tôm nước lợ luôn dẫn đầu toàn ngành thủy sản với tỷ lệ khoảng 45% tổng giá trị. Trước diễn biến của tình trạng biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, tôm nước lợ đã nổi lên như một sản phẩm đầy tiềm năng, và lợi thế để phát triển.

Năm 2016 là năm đặc biệt khó khăn đối với ngành nông nghiệp và nuôi tôm do tình hình hạn, mặn diễn ra khốc liệt, đặc biệt là sự cố môi trường biển đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nuôi trồng thủy sản mặn, lợ tại 04 tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và PTNT và các địa phương, vào cuộc quyết liệt của các doanh nghiệp, người nuôi với các giải pháp phù hợp, ngành tôm đã đạt được những kết quả rất ngoạn mục: Tổng diện tích thả nuôi tôm nước lợ là 694.645 ha; Tổng sản lượng đạt 657.282 tấn; Xuất khẩu tôm sang 90 thị trường, đạt kim ngạch trên 3,1 tỷ USD.

 

Bộ trưởng Đi thăm mô hình nuôi tôm

Khu vực duyên hải miền Trung gồm có 14 tỉnh thành, trải dài trên 1.800 km bờ biển từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Điều kiện tự nhiện khu vực miền Trung khắc nghiệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng hạn hán, thiên tai; tài nguyên đất chủ yếu là đất cát ven biển, đất bạc màu chiếm tỷ lệ lớn. Tổng diện tích đất cát của các tỉnh miền Trung là khoảng 100.000 ha. Các vùng đất cát ven biển thường có điều kiện khắc nghiệt, sản xuất nông nghiệp rất khó khăn, hiệu quả thấp.Việc chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản, sang nuôi tôm trên cát sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất cát vùng ven biển, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội cho các tỉnh khu vực miền Trung.

Phong trào nuôi tôm trên cát các tỉnh duyên hải miền Trung được bắt đầu từ những năm 2000, việc phát triển thời kỳ đầu chậm do gặp những vướng mắc như chí phí đầu tư xây dựng hạ tầng lớn, giá thành sản xuất cao và tác động tiêu cực như phá rừng, khai thác cạn kiệt nước ngầm v.v.. Sau khi áp dụng công nghệ mới như nuôi tôm thâm canh ít thay nước, sử dụng chế phẩm vi sinh, tái sử dụng nước, công nghệ bioflocs…hiệu quả tăng cao, diện tích nuôi trên vùng cát đã phát triển mạnh ở nhiều địa phương. Đến năm 2016, cả nước có 14 tỉnh thành duyên hải Miển Trung đang nuôi tôm trên cát với tổng diện tích 3.734 ha, sản lượng đạt 41.705 tấn. Nuôi tôm trên cát đã và đang góp phần quan trọng vào đời sống kinh tế xã hội, đem lại việc làm, thu nhập cho một bộ phận lớn người dân nghèo ven biển.

Diện tích nuôi tôm trên cát tiềm năng ước tính khoảng 12.000-14.600 ha. Diện tích nuôi trong giai đoạn 2010-2016 tăng trưởng trung bình khoảng 7,5%/năm (từ 2.381 ha lên đến 3.734 ha). Đây là những vùng nuôi cao triều, đối tượng nuôi chủ yếu tôm thẻ chân trắng nuôi theo hình thức thâm canh và có thể nuôi được quanh năm, trừ một số thời gian có nắng nóng và có mưa bão.

Sản lượng tôm nuôi trên cát trong giai đoạn 2010-2016 tăng trưởng trung bình 5,0%/năm (từ 30.844 tấn lên đến 41.705 tấn). Năng suất nuôi tôm trên cát các tỉnh miền Trung cao hơn năng suất bình quân của cả nước (Diện tích nuôi chỉ chiếm 15% nhưng sản lượng thu hoạch 49% của nuôi tôm nước lợ toàn vùng – năng suất trung bình khoảng 10-14 tấn/ha), có nơi cho năng suất rất cao như ở Quảng Nam (hơn 20 tấn/ha), Quảng Ngãi (khoảng 17 tấn/ha). Những tỉnh có diện tích nuôi tôm trên cát lớn gồm: Bình Thuận (28% tổng diện nuôi tôm trên cát), Ninh Thuận (18%), Phú Yên (16%), Thừa Thiên Huế (14%).

Nuôi tôm trên cát vùng duyên hải Miền Trung có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển như: ít chịu lạnh, nguồn nước mặn sạch; là nơi cung cấp nguồn giống tôm nước lợ chủ yếu cho cả nước, người dân cần cù, sáng tạo và sẵn sàng ứng dụng KHKT tiên tiến trong sản xuất. Bên cạnh đó, nghề nuôi tôm trên cát còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, rủi ro như: tình hình nắng nóng gây bốc hơi nước, nếu không có giải pháp căn cơ về cung cấp nước ngọt thì sẽ rất khó khăn cho việc sinh trưởng của con tôm, nuôi tôm thâm canh yêu cầu nguồn vốn lớn, do đó, người dân đầu tư còn hạn chế, cơ sở hạ tầng còn yếu, việc nuôi tôm trên cát yêu cầu kỹ thuật cao, trong khi trình độ của người nuôi tôm còn dựa nhiều vào kinh nghiệm. Nguồn nước ngọt, đặc biệt nguồn nước ngầm ngọt khu vực ven biển có xu hướng suy giảm về trữ lượng, nhiều nơi đã bị nhiễm mặn, sẽ là những thách thức rất lớn trong phát triển tôm trên cát. Môi trường vùng nuôi có nhiều chiều hướng xấu. Đặc biệt, mâu thuẫn trong sử dụng tài nguyên cũng như thách thức về cạnh tranh thương mại cũng là những yếu tố gây cản trở cho sự phát triển của nghề nuôi tôm trên cát.

Quan điểm của ngành, trong thời gian tới cần tận dụng những vùng đất cát hoang hóa, vùng sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả để phát triển nuôi tôm trên cát trên cơ sở quy hoạch và có những bước đi phù hợp, gắn với tái cơ cấu ngành cũng như kế hoạch tổng thể phát triển ngành tôm Việt Nam. Phấn đấu đến năm 2025, có khoảng 7.000ha nuôi tôm trên cát với sản lượng 110.000 tấn.

Để đạt được mục tiêu đề ra, cần tiến hành đồng bộ mọt số nhóm giải pháp: quy hoạch lại vùng nuôi và đầu tư đồng bộ CSHT, hoàn thiện hệ thống chính sách, quản lý chặt chẽ điều kiện cơ sở nuôi và kiểm soát tốt các yếu tố đầu vào, ứng dụng KHKT tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, mô hình ít thay nước vào nuôi tôm; quản lý môi trường và kiểm soát dịch bệnh; xây dựng các mô hình tổ chức sản xuất hiệu quả; đào tạo nghề có trình độ kỹ thuật cao; Chủ động về thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu cho con tôm Việt Nam ...

Tại Hội nghị, các đại biểu tập trung thảo luận nhiều giải pháp, chia sẻ những kinh nghiệm như: mô hình nuôi nhiều giai đoạn, nuôi trong ao bạt, ao có mái che, xử lý nước, các công nghệ tự động xi phon đáy, cho ăn tự động..., quy hoạch và quản lý chặt chẽ, tránh phát triển nóng, đầu tư hệ thống thủy lợi đồng bộ. Lựa chọn vụ nuôi và cách nuôi phù hợp cho từng loại hình nuôi ao đất, ao bạt. Tăng diện tích ao chứa nước để xứ lý trước khi nuôi (có thể lên tới 50% diện tích mặt nước), không nên nuôi mật độ quá lớn, chỉ nên tập trung khoảng mật độ 200 – 300 con/m2. Nên thành lập các hiệp hội, HTX để giảm giá thành khi mua thức ăn và các sản phẩm đầu vào trong nuôi. Cần chủ động nguyên liệu trong sản xuất thức ăn nuôi tôm, đặc biệt là bột cá chất lượng cao thông qua thành lập các hiệp hội khai thác cá biển. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính sách đặc thù về vốn cho phát triển nuôi tôm trên cát do suất đầu tư cao, và đặc biệt có nhiều khuyến cáo nên nuôi tôm trên cát không sử dụng nước ngầm, nên sử dụng nước ngọt mặt nếu cần thiết. Kiểm soát tốt chất lượng môi trường nước cấp và nước thải, kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng cơ bản.

Kết luận Hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường khẳng định, trong chiến lược phát triển ngành tôm Việt Nam thì vùng duyên hải Miền Trung có vai trò quan trọng và tiềm năng phát triển riêng, đặc biệt là các vùng đất cát ven biển. Nhiều yếu tố thuận lợi cho phát triển nuôi tôm trên cát như: nguồn nước mặn phục vụ nuôi tôm sạch; thị trường thuận lợi, ngoài phục vụ xuất khẩu, các tỉnh Miền Trung có thị trường tôm tươi sống lớn vì đây là vùng công nghiệp, du lịch phát triển, gần thị trường Trung Quốc với nhu cầu lớn. Nếu làm tốt, đúng quy trình, đầu tư bài bản sẽ cho năng suất, hiệu quả cao

Bên cạnh đó phát triển nuôi tôm tại vùng này cũng có nhiều bất lợi như thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng vào mùa hè, lạnh và mưa phùn của các tỉnh duyên hải Bắc miền Trung; tần suất lũ lụt, giông bão nhiều gây rủi ro cao cho người nuôi. Nguồn nước ngọt mặt để pha trộn cho nuôi tôm hạn chế. Nhiều nguy cơ ô nhiễm nếu không kiểm soát tốt như nhiễm mặn, dịch bệnh. Suất đầu tư cao, người dân nhỏ lẻ rất khó đầu tư phát triển.

Một lần nữa Bộ trưởng khẳng định, thực tế đã chứng minh, nuôi tôm trên cát ở vùng này mang lại hiệu quả cao cần đầu tư phát triển trên cơ sở quản lý tốt. Bộ trưởng đề nghị:

Ủy ban nhân dân các tỉnh cần rà soát những diện tích đất cát có thể phát triển nuôi tôm, quy hoạch lại trên nguyên tắc không cho phép xâm phạm diện tích rừng ven biển, coi việc bảo vệ môi trường là nguyên tắc số một, định hướng phát triển ở những vùng có điều kiện phát triển hạ tầng về điện, nước, giao thông..., quy hoạch phát triển không xung đột với các quy hoạch ngành nghề khác. Quy hoạch tập trung và quy mô phù hợp với địa hình, quản lý, khả năng đầu tư, trình độ quản trị để đảm bảo phát triển bền vững. Các tỉnh cần quyết tâm làm bài bản, dành nguồn lực cho quy hoạch với sự tham gia của các bên liên quan.

Song song với việc quy hoạch, các địa phương cần xây dựng các đề án, dự án cụ thể, có bước đi thận trọng và kiểm soát chặt chẽ. Riêng 4 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế với diện tích tiềm năng lớn cần tập trung chỉ đạo sát sao cùng với tái cơ cấu, chuyển đổi cơ cấu sử dụng để phát triển nghề này.

Đối với các doanh nghiệp, cần tổ chức sản xuất tốt trên diện tích đã có và phát huy những mô hình hiệu quả. Liên kết chặt chẽ với cơ quan quản lý trong quá trình sản xuất. Các Doanh nghiệp liên kết với nhau để giải quyết các vấn đề trong chuỗi sản xuất ngành tôm. Liên kết chặt chẽ với người dân, xem đây là nhiệm vụ và nét văn hóa của doanh nghiệp để tạo sự bền vững và chia sẻ quyền lợi trong chuỗi sản xuất.

Các Bộ, ngành phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và PTNT để thực hiện tốt kế hoạch hành động phát triển ngành tôm, trong đó có khu vực duyên hải miền Trung.

Bộ trưởng giao Tổng cục Thủy sản và các đơn vị thuộc Bộ phối hợp chặt chẽ với các tỉnh xây dựng quy hoạch, hướng dẫn thực hiện quy hoạch, quản lý sản xuất.

Tổng cục Thủy sản sớm tổng kết các mô hình nuôi phù hợp quy mô, khu vực địa lý, các ứng dụng khoa học kỹ thuật để phổ biến, hướng dẫn cho người nuôi. Đề xuất được các đề tài khoa học để giải quyết các vấn đề, phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp nghiên cứu các khâu trong chuỗi sản xuất tôm như: giống (đặc biệt là chủ động nguồn bố mẹ), thức ăn; chế phẩm sinh học, các quy trình xử lý nước....Gắn kết chuỗi khai thác biển để có nguồn bột cá chủ động cho sản xuất thức ăn. Nghiên cứu sản phẩm thay thế bột cá trong sản xuất thức ăn nuôi tôm.

Vùng duyên hải Miền Trung được thiên nhiên ban tặng cho tài nguyên quý giá để phát triển ngành tôm, tuy nhiên thực tế phát triển còn thấp theo tiềm năng. Bộ trưởng yêu cầu các đơn vị quản lý, các nhà khoa học, các doanh nghiệp, người dân cùng quyết tâm đồng lòng hợp tác, giải quyết những vướng mắc, khó khăn để phát triển ngành tôm trở thành một ngành công nghiệp, đóng góp vào sự phát trển kinh tế - xã hội của đất nước.

Cũng trong khuôn khổ chuyến công tác tại Hà Tĩnh, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường dã cùng lãnh đạo UBND tỉnh Hà Tĩnh và đoàn công tác thăm một số mô hình nuôi tôm trên cát ứng dụng công nghệ cao như: mô hình của Công ty TNHH Grobest Kỳ Anh, Công ty MTĐ Đại Thành, huyện Cẩm Xuyên...

Văn Ninh

Ý kiến bạn đọc

Tin khác