Hội nghị triển khai Đề án Phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn năm 2020-2030 (03-11-2020)

Ngày 2/11, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tổ chức Hội nghị triển khai Đề án Phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn năm 2020-2030.
Hội nghị triển khai Đề án Phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn năm 2020-2030

Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam, chỉ trong 2 năm, kể từ khi Chính phủ có Nghị định 109/2018/NĐ-CP, nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam đã phát triển mạnh. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ còn dư địa nhưng cần phát triển sao cho phù hợp.

Thứ trưởng Trần Thanh Nam cũng yêu cầu, các đơn vị chức năng phải quản lý được các sản phẩm hữu cơ trên thị trường, phải lập lại thị trường sản phẩm hữu cơ. Thứ trưởng Trần Thanh Nam cho biết: “Phát triển đi cùng với quản lý, không để tình trạng sản phẩm hữu cơ tràn lan trên thị trường mà không có chứng nhận. Chức năng quản lý nhà nước là phải quản lý được”.

Ngoài ra, đơn vị chức năng cũng phải quản lý vật tư đầu vào; tạo điều kiện hỗ trợ cho các tổ chức chứng nhận trong nước với chi phí hợp lý; sớm có các lớp đào tạo về nông nghiệp hữu cơ, không chỉ cho nông dân, hợp tác xã mà kể cả cho cán bộ quản lý.

Ông Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cho biết sản xuất hữu cơ từ đầu những năm 1990 đến nay chủ yếu là nhỏ lẻ, manh mún, chưa trở thành hàng hóa đủ lớn. Nhưng từ khi chính sách trong Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ được thực thi thì đã xuất hiện nhu cầu sản xuất hàng hóa lớn từ hàng trăm đến hàng ngàn hecta bởi thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ còn rất rộng mở, kể cả trong nội địa và xuất khẩu.. Điển hình là tác động rất lớn của các Hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA...

Theo Ông Hà Phúc Mịch, ngoài những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp nói chung, nông nghiệp hữu cơ còn khó khăn riêng như việc chuyển đổi từ sản xuất vô cơ sang hữu cơ; vật tư nông nghiệp rất thiếu, chưa hình thành dịch vụ vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ. Sản xuất lớn tất yếu phải có dịch vụ cung cấp vật tư cho nông nghiệp hữu cơ chuyên nghiệp, đủ tầm như phân bón, thức ăn gia súc, thuốc thảo mộc, sinh học…Tuy nhiên, để áp dụng đúng và dễ dàng cho nhà sản xuất, cần thiết phải có bảng danh mục vật tư đầu vào từ danh mục chi tiết của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền. Đã tham gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ tất yếu phải áp dụng theo một tiêu chuẩn phù hợp với thị trường có nhu cầu, cụ thể để xác định là sản phẩm hữu cơ phải có đơn vị chứng nhận. Bởi vậy, vấn đề hoạt động của các đơn vị chứng nhận sản phẩm hữu cơ cần được xây dựng, hình thành theo các quy định hiện hành, thậm chí cần công khai danh sách các đơn vị đã được phép hoạt động chứng nhận.

Theo kế hoạch triển khai Đề án của Bộ NN&PTNT, trong thủy sản, các sản phẩm hữu cơ chủ lực sẽ gồm tôm nước lợ, tôm càng xanh, các loài thủy sản bản địa. Mục tiêu đến năm 2030, diện tích đất nuôi trồng thủy sản hữu cơ sẽ đạt 1,5-3% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản.

Giao Tổng cục Thủy sản là đầu mối chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan lồng ghép các chương trình, đề án thuộc chuyên ngành thủy sản với các chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch phát triển ngành quốc gia, chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 nhằm nâng cao giá trị sản phẩm trên 1ha đất nuôi trồng thủy sản hữu cơ cao gấp 1,3 - 1,5 lần so với sản xuất phi hữu cơ; đạt mục tiêu diện tích nuôi trồng thủy sản hữu cơ đạt khoảng 0,5-1,5% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản vào năm 2025 và 1,5-3% vào năm 2030, trong đó tập trung một số loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế (tôm nước lợ, tôm càng xanh, các loài thuỷ sản bản địa…)

NN

Ý kiến bạn đọc

Tin khác