Phát triển nuôi trồng sản xuất thủy sản đặc sản các tỉnh phía Bắc theo hướng nâng cao giá trị (09-11-2020)

Ngày 06/11/2020, tại Yên Bái, Tổng cục Thủy sản phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái tổ chức “Diễn đàn khoa học công nghệ “Ứng dụng các giải pháp kỹ thuật và quản lý phát triển nuôi một số loài thủy đặc sản ở miền Bắc”. Nhiều kết quả nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi thương phẩm các đối tượng thủy sản đặc sản đã được giới thiệu tại Diễn đàn.
Phát triển nuôi trồng sản xuất thủy sản đặc sản các tỉnh phía Bắc theo hướng nâng cao giá trị

Tham dự Diễn đàn có đại diện các đơn vị trực thuộc Tổng cục Thủy sản, Sở Nông nghiệp và PTNT thôn tỉnh Yên Bái, Chi cục Thủy sản một số tỉnh thành khu vực phía Bắc, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, các nhà khoa học nghiên cứu về thủy sản đến từ một số trường cao đẳng, đại học, các doanh nghiệp và người sản xuất cùng các phóng viên báo, đài đến đưa tin.

Ông Vũ Duyên Hải, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Ông Nguyễn Ngọc Xuân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái đã chủ trì Diễn đàn.

Với địa hình tự nhiên đa dạng, có thể phát triển nhiều loại hình nuôi trồng thủy sản như nuôi cá lồng trên hồ chứa, sông suối, nuôi ao, nuôi kết hợp trong ruộng lúa, các tỉnh phía Bắc có tiềm năng lớn trong phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt, là các loài thủy sản đặc sản có giá trị kinh tế cao. Ngoài ra, một số vùng có thể phát triển nuôi các đối tượng chủ lực phục vụ xuất khẩu. Diện tích tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản của vùng khoảng 328.252 ha với 89,4% diện tích nuôi nước ngọt, 11,6% diện tích nuôi nước mặn, lợ. Ngoài ra, các tỉnh miền núi phía Bắc còn có hàng trăm nghìn ha mặt nước hồ chứa, hồ thủy điện, thủy lợi có thể phát triển nuôi cá lồng bè, nuôi thủy sản đặc sản trong các hồ chứa. Trong đó, có các tỉnh như: Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái, có lợi thế về quy mô diện tích lòng hồ lớn, nguồn nước sạch thuận lợi cho phát triển các đối tượng đặc sản có giá trị cao và hình thành vùng nuôi tập trung quy mô sản xuất hàng hóa lớn và theo định hướng chế biến và xuất khẩu. Nuôi các đối tượng như: cá lăng, cá tầm, cá rô phi, baba… bước đầu đã góp phần rất lớn vào phát huy lợi thế nguồn nước từ suối, hồ chứa của các tỉnh miền núi phía Bắc. Trong thời gian qua, các tỉnh khu vực vùng núi phía Bắc đã có nhiều chính sách khuyến khích trong phát triển nuôi thủy sản lồng bè trên các lòng hồ. Hiện đã có các doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống lồng bè quy mô lớn, hiện đại, xây dựng mô hình, vùng nguyên liệu tập trung, bước đầu đã đạt hiệu quả kinh tế.

 Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, một số tỉnh đã tập trung xây dựng thành công thương hiệu cho một số đối tượng thủy sản đặc sản đặc trưng của vùng núi phía Bắc, từ đó đã mang lại giá trị kinh tế cao được nhiều người tiêu dùng biết đến và đã liên kết được chuỗi tiêu thụ phục vụ cho thị trường nội địa như: Cá sông Đà, ba ba gai Yên Bái, cá tầm, cá lăng đen, cá rô phi nuôi trên lòng hồ của các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái. Hiện nay, thủy sản khu vực phía Bắc trở thành nguồn cung cấp lớn cho các nhà hàng, khách sạn, siêu thị phục vụ khách du lịch, người tiêu dùng tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và các tỉnh/thành phố trên cả nước.

Có thể thấy, thời gian qua, NTTS tại các tỉnh phía Bắc đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế xã hội của địa phương, góp phần cung cấp sản phẩm thủy sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, đảm bảo an ninh thực phẩm và dinh dưỡng; tạo công ăn việc làm cho đồng bào miền núi và Trung du. Song bên cạnh những đóng góp đó vẫn tồn tại một số bất cập như: Quy mô nuôi thủy sản còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung; dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra gây nhiều tổn thất về kinh tế; hệ thống công trình thủy lợi phục vụ NTTS còn thiếu và một số đã xuống cấp nhưng chưa được đầu tư cải tạo, nâng cấp...

Nhằm phát huy kết quả đạt được, tìm hướng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là trong vấn đề liên kết vùng, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và bàn giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển nuôi các đối tượng thủy sản đặc sản hướng tới sản xuất tập trung quy mô lớn định hướng chế biến xuất khẩu.

Tại Diễn đàn, các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luận các nội dung về: Đánh giá những tiềm năng, lợi thế, khó khăn trong hoạt động nuôi trồng thủy sản tại các địa phương; Tình hình nghiên cứu, sản xuất giống các đối tượng thủy sản đặc sản; Cung cấp các kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ phát triển một số đối tượng thủy sản bản địa, đặc hữu của khu vực phía Bắc, về sản xuất giống; Bàn các giải pháp về xây dựng và phát triển thương hiệu; Thúc đẩy chuỗi liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; Tuyên truyền, phát triển nhân rộng mô hình nuôi thủy sản tiên tiến, đạt hiệu quả cho người nuôi.

Cũng tại Diễn đàn, các nhà khoa học đã trình bày những kết quả nghiên cứu về giống và quy trình phát triển nuôi thương phẩm một số đối tượng thủy sản đặc sản có giá trị và mô hình nuôi hiệu quả các đối tượng thủy sản tại các tỉnh khu vực phía Bắc. Qua đó, giúp người dân nắm bắt công nghệ, chuyển giao kỹ thuật để phục vụ nuôi trồng sản xuất.

Tiến sỹ Trần Anh Tuấn – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I đã giới thiệu những kết quả nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ liên quan đến sản xuất giống và nuôi thương phẩm đối với các đối tượng như Cá Chiên, Cá Anh Vũ, Cá Chạch sông. Theo TS Tuấn, hiện nay, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đã có các nghiên cứu về gen, bảo vệ nguồn lợi đến nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và khép kín vòng đời của đối tượng này bao gồm thuần dưỡng nuôi vỗ cá bố mẹ, sản xuất giống nhân tạo, quy trình công nghệ ương nuôi, nuôi thương phẩm cá Chiên. Bên cạnh đó Viện đã thực hiện dự án xây dựng mô hình sản xuất giống tại 3 tỉnh Tuyên quang, Yên Bái, Hòa Bình. Đến nay một trong các tỉnh được chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá Chiên đó là Trung tâm giống Thủy sản Tuyên Quang đã làm chủ được công nghệ và đang phát triển mở rộng quy mô sản xuất giống, cung cấp con giống chất lượng cao cho người dân, nhưng sản lượng còn hạn chế do các khó khăn về cơ sở vật chất.

Từ những kết quả đạt được trong nghiên cứu đối với cá Chiên, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã chuyển giao công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cho một số đơn vị, cơ sở như: Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Lâm Đồng, Đăk lắc, Hà Giang, Tuyên Quang, Hưng Yên, Bắc Ninh,..Đến nay, do hiệu quả của mô hình nuôi cá Chiên thương phẩm cho rất cao nên người dân phát triển mở rộng ngày càng nhiều số lồng nuôi ở các tỉnh như Hà Giang, tuyên Quang, Hòa Bình, Lai Châu.

Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuấn, Trưởng phòng Khoa học (Viện NCNTTS I) đã trình bày những kết quả trong “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo sá sùng tại Quảng Ninh”. Theo đó, quá trình kích thích sinh sản và cho đẻ sá sùng bằng phương pháp phơi khô và kích thích nhiệt độ nước đã cho ra phôi và sinh sản ấu trùng đến giai đoạn ương dưỡng trong bể nước tuần hoàn và trong bể cát. Đây là kết quả nghiên cứu mang lại hiệu quả cao trong sản xuất giống sá sùng giúp làm chủ được nguồn giống cũng như công nghệ nuôi thương phẩm của đối tượng đặc sản có giá trị kinh tế cao. Hiện nay, công nghệ nay đang được áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh và sắp tới sẽ nhân rộng ra các tỉnh có tiềm năng khác.

Ngoài ra, tại Diễn đàn các nhà khoa học đã trình bày những kết quả nghiên cứu phục vụ trong nuôi trồng sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số đối tượng khác như:  Công nghệ nuôi trai nước ngọt lấy ngọc trên lòng hồ, công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm ngao giá; nghiên cứu cho sinh sản giống tôm càng nước ngọt của Khoa Thủy sản – Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Công nghệ sản xuất giống cá ngạnh sông. Bên cạnh đó, các ứng dụng công nghệ Blockchain về số hóa dữ liệu nhằm truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và kết nối chuỗi tiêu thụ sản phẩm trên sàn OCOP Việt Nam. Qua đó, giúp người nuôi kết nuôi được thị trường; kết nối với chuỗi tiêu thị, các nhà cung ứng... một cách minh bạch và dễ dàng hơn.

Phát biểu tại Diễn đàn, Ông Vũ Duyên Hải cho rằng trong thời gian tới, từ kết quả của các công trình nghiên cứu cần đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất giống và quy trình nuôi thương phẩm đối với các đối tượng thủy sản đặc sản cho khu vực các tỉnh phía Bắc. Đẩy mạnh phát triển NTTS toàn diện trên cơ sở tái cơ cấu ngành với các nhóm giải pháp KHCN để nâng cao năng suất, hạ giá thành, tổ chức lại sản xuất, hình thành các chuỗi liên kết trong NTTS. Tập trung giải quyết khâu giống, trong đó có vai trò quan trọng của các cơ quan quản lý, cơ quan nghiên cứu trong việc xây dựng các chương trình nghiên cứu chọn tạo giống bố mẹ, chuyển giao công nghệ cho các địa phương để nhân rộng. Đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào công tác nghiên cứu khoa học để phát triển sản xuất giống. Tăng cường kiểm soát môi trường, dịch bệnh, chấn chỉnh công tác bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản. Cần xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh tiêu thụ nội địa và có định hướng phát triển vùng nuôi quy mô sản xuất hàng hóa tập trung hướng tới xuất khẩu một số đối tượng có giá trị được người tiêu dùng các nước ưa dùng như: Cá Rô phi, cá chạch sông...Bên cạnh đó cần phân tích thị trường, dự báo cung cầu tiêu thụ và đẩy mạnh xúc tiến thương mại.

Tại Diễn đàn, các đại biểu đã chứng kiến lễ ký kết cung cấp con giống, thức ăn và bao tiêu sản phẩm giữa Công ty cá sạch Việt Nam và Hợp tác xã Thủy sản Hoàng Kim, Công ty CP nghiên cứu ứng dụng dịch vụ khoa học công nghệ T&T.

Văn Thọ

Ý kiến bạn đọc

Tin khác